NGHĨ VỀ CHỮ “HÒA” TRONG PHÁI – Thái Phước

NGHĨ VỀ CHỮ “HÒA” TRONG PHÁI

Thái Phước.

 

Không phải ngẫu nhiên mà Phái chúng ta lấy chữ Hòa làm chữ đệm, khi chọn chữ Hòa; ông cha ta có ý mong cho con cháu trong bổn tộc hòa thuận, thương yêu và đoàn kết.

Hòa thuận, hòa hợp, hòa hiếu, hòa đồng, và dĩ hòa vi quý đều bắt nguồn từ tình thương, để từ đó có sự cảm thông, tương trợ. Có như vây, mới anh nói – em nghe, chị ngã – em nâng, mới ngũ thế đồng cư, tâm đồng ý hợp vun trồng gốc rễ vững bền hoc hoa trái sum xuê.

Hòa là trung đạo, ở giữa hai thái cực, trở về nhất nguyên bất nhị. Hòa là sự gặp gỡ ở tâm điểm, nơi đó dung hòa các quan điêmr xung đột; mấu chốt của sự đoàn kết. Hòa còn hàm chứa sự bao dung và tôn trọng; có bao dung mới có hòa hợp, có tôn trọng mới có khiêm cung, nhận biết giá trị của bản thân và tôn trọng giá trị của người khác, tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân, gia đình và cộng đồng. Đức Hòa còn phải có trí  và nhân, nhờ có trí mới nhận biết được cái lý của sự vật, nhờ có nhân mới dung hòa quan điểm.

Trong vũ trụ quan, người xưa thường dùng chữ Đạo để diễn ta quá trình sinh hóa toàn diện từ hình nhi thượng vô cực đến hình nhi hạ thái cực. Trong đó lòng Đạo hàm chứa hai mặt đối kháng Âm – Dương nên nói nhất âm, nhất dương chi vị Đạo. Thái cực động vi dương, tịnh vi âm, tuy hai mặt đối kháng nhưng nhờ cương nhu hòa hợp thành, trụ diệt của vạn hữu. Âm –  Dương tuy đối lập, vận động không ngừng nhưng luôn lập lại thế quân bình. Mọi sinh vật nếu mất thăng bằng Âm – Dương thì sinh bệnh. Âm – Dương là một khối thống nhất hoàn chỉnh, đối lập nhau mà thống nhất nhau – Hòa; hổ căn bình hành trở về Trung Đạo thì mọi vật mới sinh sinh hóa hóa.

Trong trời đất không vật nào không cõng âm, bồng dương; nhờ hư vô mà âm dương hòa hợp nên hư vô cũng là Thái Hòa 1. Tâm Thái Hòa thì không thể còn có sự lựa chọn thiện – ác. Thị – phi, đắc – thất. Cũng như tâm Thái cực gồm lưỡng nghi thì âm dương, thiện ác được điều hòa. Nếu âm thịnh dương suy hoặc ngược lại thì tâm Thái hòa có bổn phận điều chỉnh để lập lại quân bình. Ta cóp thể ví như cái đong đưa (dây dọi) khi qua trái, lúc về phải nhưng cuối cùng lại về trục thẳng đứng (quân bình). Tức là tịnh, là trung chán; cho nên . cái gì bất trung trở về với trung – cái gì bất chánh trở về với chánh. Trung chánh mà vững thì mọi biến dịch mới hanh thông, bởi tịnh là gốc của động2. Thực hiện được Tâm Thái Hòa là có được sự an lạc của Tâm hồn thanh tịnh giữa cõi đời ồn ào, náo nhiệt này. Sống là chấp nhận những gì mà nos phải vậy, không vậy, không được, phải tập cho lòng luôn bình thản, vô tư, thanh tịnh; nghĩa là đừng để những thị phi, vinh nhục làm cho điên đảo tâm mà phải giữ thái độ thản nhiên, điềm tĩnh trước mọi khiêu khích của cuộc đời; đó là giữ được Tâm Thái Hòa.

Trên bình diện xã hội, phàm những người tháo động, nóng nảy, cương cường thường hay chấp Ngã, kiêu căng, ngã mạng, đề cao cái Tôi; đó là người nội Khôn mà ngoại Càn; dương khí phát tán ra ngoài (bỉ). Trái lại, những người điềm đạm, ôn hòa nhu thuận, dương khí được nuôi dưỡng bên trong là người Nội Càn mà Ngoại Khôn (thái). Từ xưa, những bậc vĩ nhân như Thích Ca Mâu Ni, Jesu Christ, Ganhdi, Khổng tử đều sống cuộc đời ôn hòa, bình dị mà nội lực phi thường. Còn khi về với gia đình mà hai vợ chồng đều dương cường thì tháo động, đổ vỡ đều âm nhu thì trầm mặc nên phải có cương nhu mới bền.

Ông cha ta ngày trước đều là những vị túc nho cho nên khi chọn chữ Hòa bên cạnh chữ Thái đã hàm ý triết lý sâu rộng. Vả lại, chữ Hòa ở giữa họ và teen là muốn có sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại cùng sự gắn liền các thế hệ mai sau. Cho nên, con cháu của các Ngài phải trân trọng mà đặt chữ lót cho đúng ý nguyện là “Thái Hòa” nghe nhẹ nhàng mà ý nghĩa. Mong cac thế hệ sau khi đặt tên nên quan tâm điều này.

 

Ghi chú:

  1. “Vạn vật phụ âm nhi bão dưỡng, xung khí dỉ vi hòa” Lão Tử – Đạo đức kinh (trong vạn vật không vật nào không cõng Âm bồng Dương, nhân chỗ xung nhau mà Hòa nhau)
  2. Đạo học Phương Đông.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *