Lịch sử họ Phái Thái Hòa

 

THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP NGÀI THÁI TỔ VÀ CÁC BẬC TIỀN BỐI HỌ THÁI

Làng Bao La, Quãng Phú, Quãng ĐIền, Thừa Thiên

Thái Phước

1. Sơ lược về tộc Việt:

Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, nguyên đại tộc Bách Việt sinh sống ở vùng Lĩnh Nam, núi Ngũ Linh phía nam sông Dương Tử – Trung Quốc (Lĩnh Nam riêng một triều đình).

Trãi qua hàng ngàn năm dưới áp lực của Tần, Hán, Đường, Tống, Lương, Nguyên, Minh, Thanh: Tộc Việt đi dần về phương Nam xuống vùng Hoa Nam, Triết Giang, Quản Đông, rồi xuống tận miền Bắc Đông Nam Á, nhập với tộc Mường Lạc mà lập nên nước Lạc Việt. Bởi tính chất của tộc Bách Việt là vượt, là tràn khắp, là vượt sông, vượt núi, vượt suối, vượt non, vượt tất cả các chướng ngại trên đường Đông tiến, Nam tiến trong cuộc vạn lý trường chinh của mình để lập nên nước Việt ngày nay.

Khởi đầu là 18 đời vua Hùng Vương (2879 – 257 TCN) đến Triệu Đà – An Dương Vương với Cổ Loa rồi Hai Bà Trưng thế kỷ I CN đánh đuổi Tô Định, chấm dứt Bắc thuộc lần I, lập nên nước Đại Việt tự chủ 43 năm thì bị Bắc thuộc lần 2 kéo dài gần 1000 năm (43 – 939) Ngô Quyền mới dành độc lập.

2. Lãnh thổ Việt Nam qua các triều đại.

Sau thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý kế tiếp thì lãnh thổ Đại Việt mới chỉ tới đèo Ngang (939-1217). Đời nhà Trần (1218-1400) Trần Nhân Tông gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân đổi lấy Châu Ô và Châu Lý tức là Quảng Bình, Quảng Trị, Thuận Hóa trở về Việt Nam.

Đời Hậu Lê lãnh thổ vươn tới Đại Lãnh, Phú Yên.

Đời Nhà Nguyễn lãnh thổ Việt Nam ta như ngày nay.

Bằng mỹ nhân kế như việc gả công chua cho các vua lân bang như Huyền Trân, Ngọc Vạn, Ngọc Linh, Tường Ninh… hoặc bằng quân sự, ngoại giao trải qua 1000 năm, lãnh thổ Việt Nam trải dài từ Nam Quan đến Cà Mau.

3. Những giả thiết về dòng họ:

Dòng lịch sử 4000 năm biến động, biết bao thay đổi, di dời tang hải, nhất là thời kỳ Bắc thuộc người Hán, người Việt giao lưu qua lại ai biết được bao nhiêu dòng họ ở Trung Quốc qua Việt Nam làm ăn sinh sống. Lịch sử Trung Quốc biết bao lần thay ngôi, đổi chủ từ Tần, Hán, Nguyên, Hồ, Mãn, Minh, Thanh; Mỗi lần đều có những sĩ phu của triều đại trước mang dòng họ bà con qua Việt Nam lánh nạn sinh sống. Phải chăng tộc Thái của chúng ta là một. Giải thuyết tộc Thái gốc ở Nghệ An, Thanh Hóa thì dòng họ đã có mặt từ thời xa xưa. Bởi trước đời Nhà Lý (1009-1217) nước Đại Việt từ đèo Ngang trở ra, qua đời Trần, Thuận Hóa (Huế) chỉ là phên dậu. Đặc biệt, dưới đời nhà Nguyễn từ khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa (1558-1613) kế tiếp các đời Chúa, dòng người Nam tiến ngày một đông. Nhà Nguyễn mở mang bờ cõi đưa dân vào phong hầu kiến ấp, nhờ vậy đến đời Nguyễn Phúc Chu (1691-1726) Việt Nam vươn ra tận Cà Mau1.

Năm 1662, Khang Hy lật đổ Nhà Minh lập nên triều đại nhà Thanh, sĩ phu nhà Minh là Mạc Cửu cùng bà con dòng họ chạy lánh nạn xin chúa Nguyễn vào định cư ở Hà Tiên. Theo Mạc Cửu có họ Mạc, họ Lâm, họ Thái, họ Trần là những họ có công lớn trong việc lập nên một vùng trù phú ở miền Tây Nam Bộ2.

Thủy tổ họ Thái là một vị tướng “THÁI THIỆN TƯỚNG QUỐC” theo phò chúa Nguyễn nhưng tại sao mộ táng ở làng Bao La? Nơi thuở đó là đồng không mông quạnh, giao thông trở ngại. Ngay Vĩ Dạ xưa là cánh đồng lau sậy nên gọi là Vi dã (vi lô) huống hồ là Bao La.

Có điều, chúng ta khẳng định là họ Thái không thể hiện diện ở Thuận hóa trước khi Nguyễn Hoàng vào (1600). Lần giở trang sử ta thấy sau khi Nguyễn Hoàng mất, năm 1613, con là Nguyễn Phúc Nguyên lên thay (1614-1635) đã dời phủ từ Cát Dinh – Vũ Xương về Phước Yên – Quảng Điền – Thuận Hóa. Thủy tổ họ Thái là một vị tướng quốc triều đình nên cận kề bên Chúa cho nên khi mất, mộ táng ở Bao La gần Phước Yên, từ đó đến nay gần 400 năm trải qua trên 10 đời.

Có giả thuyết cho rằng, gốc họ Thái ở Bao La là người Minh hương trong nam, theo phò Gia Long ra Phú Xuân (1798) khi Gia Long ra đánh Tây Sơn dành lại Phú Xuân. Theo giả thuyết này thì từ khi nhà Thanh diệt Nhà Minh dành lấy Trung Quốc. Mạc Cửu –  một tướng nhà Minh, đã cùng bà con dòng họ vượt biển Đông đến lánh nạn ở Hà Tiên như đã nói ở trên. Mạc Cửu có con cháu là Mạc Thiên Tứ; Mạc Thiên Tích theo phò vua Gia Long; họ Lâm có Lâm Tấn Phát; tức Đông Hồ, một nhà thơ lớn miền Nam; họ Thái có Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu. Bà là một vị tu hành, Mạc Cửu lập chùa cho mẹ tu, bà đã quy tiên lúc đang thiền tọa. Hiện còn ngôi chùa Thái Bà Bà ở Mỹ Đức, Hà Tiên rất nổi tiếng linh thiêng. Hậu duệ họ Thái có bà Thái Thị Mộng Tuyết, vợ của thi bá Đông Hồ3. Nhưng nếu bảo bị Thái Chủ Thiện Tướng Quốc theo phò Gia Long ra Phú Xuân, thì từ đó đến nay mới có 200 năm, không thể trãi qua trên 10 đời. Ngoài ra, ở Phú Xuân (Huế) sao mộ táng ở Bao La? Nên giả thuyết này không đủ sức thuyết phục.

Cho nên, vị Thái Chủ Thiện Tướng Quốc theo nhà Nguyễn thời Nguyễn Hoàng 4 và Nguyễn Phúc Nguyên hồi còn thủ phủ ở Phước Yên, Quảng Điền là có cơ sở khoa học.

4. Những hậu duệ của Ngài Thái Tổ:

Trãi qua nhiều triều đại Chúa rồi Vua, những vị vua sau này có được giang sơn gấm vóc, triều đại vàng son đều nhớ đến những vị khai quốc công thần đã khai đường mở lối cho Tổ quốc Việt Nam có được một dãi từ Nam Quan đến Cà Mau như hôm nay.

Năm 1917, Vua Khải Định sắc phong Ngài Thái Tổ 5:

“Sắc- Thừa Thiên Phủ, Quảng Điền Huyện, Bao La xã, phụng sự khai canh THÁI CHỦ THIỆN TƯỚNG QUÂN CHI THẦN nhẩm trứ linh ứng tứ kim phi thừa cảnh mệnh ban niệm Thân hưu trú phong vi DỰC BẢO TRUNG HƯNG LINH PHÒ TÔN THẦN chuẩn kỳ phụng sự thứ cơ Thần kỳ tương hưu, bảo ngã lê dân, Khâm tai- Khải Định nhị niêm tam nguyệt thập bát nhật.”

Dịch: “Sắc cho xã Bao La, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên phụng thờ vị thần canh tác là THÁI CHỦ THIỆN TƯỚNG QUÂN. Nay ta theo mệnh trời to lớn phong cho vị thần đó tước hiệu DỰC BẢO TRUNG HƯNG LINH PHÒ TÔN THẦN, có nghĩa là vị thần này đã có công lao đóng góp cho nền trung hung của nước nhà rất mực nổi tiếng linh thiên, nay chuẩn cho tiếp tục phụng thờ để bảo vệ lê dân”

Năm 1924, Khải Định lại sắc phong lần 2:

“Sắc – Thừa Thiên phủ, Quản Điền huyện, Thanh Cần tổng, Bao La xã, tùng tiến phụng sự nguyên tặng DỰC BẢO TRUNG HƯNG LINH PHÒ TÔN THẦN hộ quốc tỳ dân nhẩm trứ linh ứng tiết mông ban sắc phong chuẩn hứa phụng sự tứ kim chính trỉ, Trẩm tứ thần đại khánh tiết kim ban bảo chiếu đảm ân lễ long đàng hưu trứ gia tặng ĐOAN TÚC TÔN THẦN đặt chuẩn phụng sự dụng chí quốc khánh nhi than tư điển – Khâm tai – Khải Định nhị niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật”

Dịch: “Sắc cho xã Bao La, tổng Thanh Cần, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên theo như trước mà phụng thờ bận TÔNG THẦN BỔN THỔ KHAI CANH, vị khai sang mở đất đai ở địa phương THÁI CHỦ THIỆN TƯỚNG QUỐC, vị thần này nguyên trước đã phong sắc DỰC BẢO TRUNG HƯNG LINH PHÒ TÔN THẦN, có nghĩa là vị thần đã có công đưa đất nước đến nền trung lương, khai hóa, bảo vệ giúp dân, rất mực nổi tiếng linh thiên, Nay nhân lễ tứ tuần đại khánh, lệnh ra bửu chiếu phong ĐOAN TÚC TÔN THẦN , nghĩa là vị thần đoan chính nghiêm túc. Giao cho xã Bao La thờ phụng thờ theo phép định.”

Noi gương Ngài Thủy tổ, các Ngài bậc Tiên tổ đoừi sau đã phát huy truyền thống dòng họ làm rạng danh Thái Tộc.

Năm 1895, vua Thành Thái ban sắc tuyên đồng Ngài Thái Văn Hiển là người “có chí tang bồng hồ thỉ, thao lược giỏi giang, đảm trách võ nghiệp đạt nhiều công lao, trước sau cần mẫn thủy chung…”

Năm 1904, vua Thành Thái sắc phong ngài Thái Văn Hòa, tước TÍN NGHĨA ĐÔ ÚY PHÓ QUẢN CƠ (..Tư đặt tăng nhỉ vi TÍN NGHĨA ĐÔ ÚY PHÓ QUẢN CƠ tích chi cáo mạng hí kỳ thừa ác vĩnh lưu thế đưc chi quang tăng dủ ấm hưu thuần hà thiên gia chi khánh…)6.

Cùng trong năm 1904, vua Thành Thái sắc phong ngài Thái Văn Vinh tước PHẤN VÕ TƯỚNG QUÂN chức PHÓ VỆ CẤM BINH thụy cương mại (tư đặt truy tặng nhỉ vi Phấn Dõng Tướng Quaan cấm binh Phó vệ úy Thụy Cương Mại…).

Năm 1905, Thành Thái cũng sắc phong Ngài Thái Thái Văn Hiển chức Thống Chế, tước hiệu NGIÊM OAI TƯỚNG QUÂN (…tiên thử than dĩ định phủ kim nhi truy tư thời tích hậu tử túc ủy kỳ sinh, tước chuẩn truy thọ THỐNG CHẾ NGHIÊM OAI TƯỚNG QUÂN…)

Gần đây, Ngái Thái Văn Giai là Vinh quốc công tử hiệu Dực Thiện 7 đương thời là vị quan thanh liêm chính trực được người đời kình nể. Kế đến là các tổ phụ Thái Văn Dinh, Thái Văn Dung, Thái Văn Đạo đều là những vị túc nho, dân làng nể trọng, mỗi lần cần đến việc quan đều nhờ các ngài chấp bút.

Ngày nay, dòng họ Thái chúng ta đã sản sinh ra những công dân cần cù, hiếu học, đã có những vị là Hàn Lâm viện sĩ, là những tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư… là nhà nghiên cứu, những học giả, những nhà báo, những chuyên viên ngành kinh tế, khoa học đã có những cống hiêns đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Là những người con dòng họ Thái, dù ở nơi quê nhà tỏng nước hoặc hải ngoại, năm châu bốn biển nơi đâu cũng nhớ về quê cha đất tổ, một lòng chung lo phụng thờ, tôn kính các bậc Tổ tiên tiền bối. Là hậu duệ của các Ngài, chúng ta cùng nhau chăm lo cho gốc rễ vững bền, để cảnh lá sum xuê, cho hoa trái ngọt lành.


Ghi chú:

  1. Nhà Nguyễn Chín Chúa Mười Ba Vua
  2. Việt Nam gấm hoa: Thái Văn Kiểm.
  3. Việt Nam gấm hoa: Thái Văn Kiểm.
  4. Nguyễn Hoàng và Thái chủ: đồng hương gốc Thanh Hóa
  5. Sắc phong hiện thờ tại nhà thờ họ Thái và Đình làng Bao La
  6. Gia phổ phái chủ Thái Văn Kiểm (Viện sĩ Viện Hàn Lâm Đông Phương – Pháp)
  7. Gia phổ phái Thái Hòa (con ngài Viên tử: Thái Văn Công).